Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Lược sử hình thành và phát triển của trường
Sự hình thành và phát triển của Trường ĐH Khoa học Tự nhiên gắn liền với các mốc thời gian sau:
Trường Cao đẳng Khoa học
       Trường Cao Đẳng Khoa Học trực thuộc Viện Đại học Đông Dương đặt tại Hà Nội được thành lập theo sắc lệnh ngày 26/7/1941. Nhiệm vụ của Trường Cao Đẳng Khoa Học từ năm học 1941-1942 là đào tạo làm bằng đại học giá rẻ và cấp các chứng chỉ: Toán Đại cương (M.G); Toán, Lý, Hóa (M.P.C); Lý, Hóa, Khoa học tự nhiên (S.P.C.N).
trường đại học khoa học tự nhiên

       Tháng 10/1942 Trường bắt đầu tổ chức kỳ thi nhập học chứng chỉ M.G và chứng chỉ M.P.C tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn.
       Năm 1947, một trung tâm thứ hai được thiết lập tại Sài Gòn và tọa lạc trên phần đất của bệnh viện Dejean de la Bâtie, nay là Bệnh viện Sài Gòn.
       Năm học 1947-1948 trường mở các chứng chỉ làm bằng đại học giá rẻ (c/c): Toán học có c/c Toán Đại cương, c/c Toán Vi phân và Tích phân; Khoa học Tự nhiên có c/c Thực vật đại cương, c/c Động vật, c/c Sinh lý đại cương, c/c Vật lý, c/c Hóa học và Sinh học.
       Ngày 23/11/1947 thành lập phân ban Vô tuyến điện trực thuộc phòng thí nghiệm Vật lý, đào tạo các cán sự Vô tuyến điện.

Trường Đại học Khoa học
       Trong Bản Hiệp ước văn hóa Pháp - Việt, ký kết ngày 30/12/1949, Viện Đại học Đông Dương biến đổi thành Viện Đại học hỗn hợp Pháp - Việt lấy tên là Viện Đại học Hà Nội, gồm 2 trung tâm: một Trung tâm ở Hà Nội và một Trung tâm ở Sài Gòn. Viện này được quyền tự trị hành chính và tài chính, bắt đầu hoạt động từ tháng 1/1951 dưới sự điều hành của Viện trưởng người Pháp và được trợ giúp làm bằng đại học giá rẻ bởi một Phó Viện trưởng người Việt.
       Ngày 12/11/1953, một văn bản của hai chính phủ Pháp và Việt nam đổi tên trường Cao đẳng Khoa học thành trường Đại học Khoa học (còn gọi là Khoa học Đại học đường), gồm một trung tâm ở Hà Nội và một trung tâm ở Sài Gòn.
       Tháng 11/1954, trung tâm ở Hà Nội di chuyển vào nam và sáp nhập với Trung tâm ở Sài Gòn. Ban đầu gồm có các trường: ĐH Luật khoa, ĐH hỗn hợp Y-Dược khoa, ĐH Khoa học, Cao đẳng Kiến trúc, Trường dự bị Văn khoa. Bản Hiệp ước Văn hóa Việt-Pháp (30/12/1949) và sau đó là thỏa thuận bổ sung (08/01/1951) đã quyết định sẽ chuyển giao điều hành từ chính phủ Pháp qua Việt Nam. Ngày 11/5/1955 Lễ chuyển giao từ chính phủ Pháp cho Việt Nam đã được tiến hành. Ngày này trở thành mốc đánh dấu ngày thành lập Viện Đại học Quốc gia Việt Nam. Viện Đại học Quốc gia Việt Nam được đặt dưới sự điều hành của một Viện Trưởng người Việt Nam. Theo Sắc lệnh số 247 ngày 28/4/1955, Ông Nguyễn Quang Trình, Giáo sư thực thụ, Tiến sĩ Khoa học, đã được cử làm Viện trưởng Viện Đại học Quốc gia. Đồng thời, GS Nguyễn Quang Trình được bổ nhiệm là Quyền Khoa Trưởng Khoa học Đại học Đường (tức Trường Đại học Khoa học).
       Ngày 22/12/1955 lễ khai giảng các trường Đại học diễn ra sau khi ký kết văn kiện chuyển giao. Sĩ số sinh viên của Trường Đại học Khoa học tính đến ngày 01/01/1956 là 743 sinh viên với 15 Giáo sư (có 7 người Pháp). Các kỳ thi cuối niên học 1955-1956, khóa thứ I (ngày nay gọi là thi lần 1), mở từ ngày 11/6/1956, kết quả số sinh viên thi đạt là 96 trên số sinh viên dự thi là 326. Kỳ thi khóa II, mở ngày 16/10/1956, kết quả số sinh viên thi đạt là 84 trên số sinh viên dự thi là 241.
       Tháng 3 năm 1957, sau khi Viện Đại học Huế được thành lập thì Viện Đại học Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn; cũng từ đó trường Đại học Khoa học được mang tên Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.
       Ngày thứ ba, 13/10/1964, lúc 9g sáng đã diễn ra lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng tòa nhà thuộc Trường Đại học Khoa học Sài Gòn tại khu Đại học Thủ Đức (cơ sở Linh Trung hiện nay), theo chương trình Viện trợ Văn hóa cho Chính phủ Việt Nam của Tân Tây Lan (New Zealand).
       Trường Đại học Khoa học Sài Gòn được xem là trường khoa học cơ bản mạnh nhất lúc bấy giờ và là cái nôi nghiên cứu khoa học cơ bản. Trường đào tạo hệ đại học và sau đại học, tổ chức bảo vệ luận án "Tiến sĩ quốc gia" đầu tiên về Hóa học vào năm 1965, từ đó trường tổ chức đào tạo Bằng "Tiến sĩ quốc gia" và "Tiến sĩ Đệ tam cấp" trong các ngành khoa học.

Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
       Được thành lập ngày 30/4/1977 theo quyết định của Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp hợp nhất từ hai trường ĐH Văn Khoa và ĐH Khoa học (của Viện Đại học Sài Gòn cũ) với mục tiêu đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, đào tạo giảng viên giảng dạy khoa học cơ bản cho các trường trong khu vực. Trường gồm 16 khoa: Toán, Vật lý, Hóa, Sinh, Địa lý, Địa chất, Ngữ văn, Sử học, Triết, Kinh tế, Thư viện, Anh, Pháp, Nga, Luật và Đông Phương học. Ngoài ra còn có 7 trung tâm NCKH - dịch vụ và sản xuất.
       Trường đóng vai trò lớn trong việc đào tạo hàng ngàn nhà khoa học trẻ trên hai lãnh vực là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trường có mối quan hệ với hàng chục trường đại học, viện và tổ chức giáo dục trên thế giới. Từng tổ chức nhiều hội thảo khoa học và cử cán bộ tu nghiệp và trao đổi chuyên môn.

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên:
Năm 1996, Trường ĐH KHTN được chính thức thành lập theo quyết định 1236/GDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 30/3/1996 trên cơ sở tách ra từ Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM để tham gia vào Đại học Quốc gia TP.HCM.
Trường hiện có 09 Khoa; 16 trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học  chuyển giao công nghệ. Hiện nay, Trường đang có 32 chuyên ngành ở bậc sau đại học (SĐH) và 13 ngành (52 chuyên  ngành) đào tạo ở bậc đại học (ĐH): Toán học, Nhóm ngành Công nghệ Thông tin, Vật lý, Kỹ thuật Điện tử -Truyền thông, Khoa học Vật liệu, Hóa học, Sinh học, Công nghệ Sinh học, Địa chất, Khoa học Môi trường, Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, Hải Dương học và Kỹ thuật Hạt nhân. Trường đào tạo các văn bằng: Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân Đại học, Cử nhân Cao đẳng, Hoàn chỉnh, Từ xa, Vừa làm vừa học.Hằng năm Trường có trên 2.500 Cử nhân và gần 250 Thạc sĩ, Tiến sĩ ra trường, cung cấp đội ngũ cán bộ khoa học tự nhiên cho Tp.HCM và các tỉnh trong toàn quốc.
Các năm qua, Trường được Nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng các ngành mũi nhọn như: Công nghệ thông tin, Công nghệ Sinh học, Khoa học vật liệu với các phòng thí nghiệm có thiết bị hiện đại. Trường có mối quan hệ với 63 tổ chức, đơn vị trong nước và 41 trường đại học, tổ chức quốc tế. Trường ĐH KHTN là 1 trong 2 trường đại học đầu tiên của cả nước áp dụng thành công học chế tín chỉ từ năm 1994. Ngoài ra, Trường còn phụ trách chương trình đào tạo ngành CNTT (thuộc 1 trong 10 chương trình tiên tiến đầu tiên của Bộ GD&ĐT) và nhiều năm liền được Bộ xếp hạng và đánh giá cao. Tháng 12/2009, ngành CNTT của Trường đã được tổ chức quốc tế AUN kiểm định chất lượng đánh giá cho điểm cao nhất nước, xếp hạng 2 trong toàn khu vực Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, trường còn luôn là đơn vị tiên phong trong nghiên cứu cơ bản, phát triển và ứng dụng các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn vào thực tiễn sản xuất. Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc của Trường đã được Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế đánh giá cao về thành tích đào tạo cán bộ và nhân lực cho ngành hỗ trợ sinh sản, điều trị vô sinh, thụ tinh trong ống nghiệm tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam; đồng thời là phòng thí nghiệm tiên phong về nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực tế bào gốc tại Việt Nam.
Trường đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng I năm 2000; năm 2003 và năm 2009, Trường vinh dự đón nhận Huân chươngĐộc lập hạng III và hạng II. Đặc biệt, ngày 11/09/2010, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho tập thể CB-VC, giảng viên và sinh viên Trường ĐH KHTN Tp. HCM. Ngoài ra, những năm qua, nhà trường còn đón nhận các huân chương lao động hạng IIvà hạng III, bằng khen của chính phủ, các bộ, ngành, UBND Thành phố.
ĐHQG TP.HCM là một đại học đa lĩnh vực, được chính phủ đầu tư đặc biệt về tài chính và tạo điều kiện về cơ chế nhằm đi đầu trong chất lượng đào tạo, phương pháp giảng dạy tiên tiến, đẩy mạnh khoa học công nghệ và hỗ trợ nguồn cán bộ khoa học cho khu vực phía Nam.
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đang thực hiện các bước trong quy hoạch tổng thể của ĐH Quốc Gia TP.HCM tại Linh Trung - Thủ Đức, hứa hẹn một tương lai tươi sáng.


Sự hình thành và phát triển của nhà trường
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN tiền thân là Trường Ngoại ngữ thành lập năm 1955 tại Việt Nam Học xá (nay thuộc phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, Trường trở thành trung tâm đào tạo làm bằng đại học giáo viên và cán bộ ngoại ngữ lớn nhất, có vị trí trường đầu ngành ngoại ngữ của cả nước.
trường đại học ngoại ngữ quốc gia hà nội

Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên và cán bộ ngoại ngữ khởi thủy ban đầu với 2 ngành học là tiếng Nga và tiếng Hoa (Trung Quốc).
Năm 1958, Trường Ngoại ngữ được sáp nhập, trở thành Khoa Ngoại ngữ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Năm 1964, từ các phân khoa ngoại ngữ, Bộ Giáo dục ra quyết định thành lập 4 khoa : Khoa Nga văn, Khoa Trung văn, Khoa Anh văn và Khoa Pháp văn.
Năm 1967, Thủ tướng Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số 128/CP ngày 14/8/1967 chia Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành 3 trường đại học Sư phạm thuộc Bộ Giáo dục : Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.
Việc thành lập Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội trên cơ sở 4 khoa ngoại ngữ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là bước phát triển vượt bậc của ngành ngoại ngữ nước nhà, đáp ứng nhu cầu cấp bách đào tạo làm bằng đại học giáo viên và cán bộ ngoại ngữ cho sự nghiệp giáo dục và cho công cuộc xây dựng , bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1993, trước yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục đại học, Chính phủ đã quyết định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sáp nhập 3 trường đại học lớn của cả nước ở Thủ đô Hà Nội là Trường Đại học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1.
Là một trong 3 trường thành viên đầu tiên của ĐHQGHN, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội đổi tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN.
Tóm tắt thành tích của trường
Bằng nhiều hình thức đào tạo làm bằng đại học như chính quy dài hạn tập trung, tại chức, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn Trường đã cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho việc giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp bậc học từ giáo dục phổ thông, giáo dục trung học, cao đẳng, đại học, giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề, cho các trường thuộc các lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an), đáp ứng nhu cầu cán bộ ngoại ngữ cho các ngành ngoại giao, kinh tế, chính trị-xã hội, quốc phòng v.v Tính từ năm 1955 đến nay, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đã đào tạo được hàng vạn GV, CB ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc, tiếng Ả-rập, tiếng Thái Lan ở các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Hàng trăm sinh viên tốt nghiệp đã có các học vị Tiến sỹ khoa học, Tiến sỹ, trở thành các GS, PGS đầu ngành ngoại ngữ của cả nước. Nhiều cựu SV của trường đang giữ những cương vị lãnh đạo cao trong Đảng, trong Chính phủ, trong các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, trong các liên doanh với nước ngoài.
Trong nghiên cứu khoa học, Trường đã hoàn thành hàng trăm đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp ĐHQGHN, cấp trường với hàng nghìn số lượt CB, GV tham gia. Trường đã biên soạn  khung chương trình, giáo trình và  sách công cụ cho các bậc phổ thông, tham gia viết hơn  sách giáo khoa ngoại ngữ giảng dạy trong các trường phổ thông. Hàng năm Trường triển khai bồi dưỡng nâng cao trình độ hàng nghìn lượt giáo viên phổ thông. Hiện nay, Trường là một trong các cơ sở đào tạo, được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ khảo sát, đánh giá, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh trên toàn quốc ( đề án ngoại ngữ 2020), v.v…
Với những thành tích nổi bật đạt được trong 60 năm qua, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, nhiều tập thể, cá nhân của Trường đã được khen tặng nhiều phần thưởng cao quý. Trường liên tục đạt danh hiệu thi đua “Trường xuất sắc”, “Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”, “Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc”, "Đơn vị xuất sắc trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên". Hàng trăm CB, GV, CNV và SV đã được thưởng Huân, Huy chương các loại, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, các loại Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Giáo dục, sự nghiệp Khoa hoc, Vì thế hệ trẻ v.v...
60 năm xây dựng và phát triển nhà trường, tập thể cán bộ, viên chức, giáo viên, học sinh, sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN tin tưởng sâu sắc rằng, với sự chỉ đạo sát sao và quan tâm ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả của các cấp lãnh đạo, trực tiếp là Đại học Quốc gia Hà Nội, với hoạt động tích cực, năng động, sáng tạo, hiệu quả của đội ngũ, cùng với truyền thống vẻ vang của mình, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN nhất định sẽ thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình trong giai đoạn phát triển mới.
Trường ĐHNN- Đại học Quốc Gia Hà Nội (ĐHQGHN) tuyển sinh trong cả nước. Hiện nay, Ngoài các chương trình đào tạo chính quy truyền thống cung cấp cho xã hội:  cử nhân sư phạm, ngôn ngữ, Nhà trường còn đạo tạo cấp bằng cử nhân bằng kép (tiếng Anh- TCNH, QTKD, KTĐN); ngành kép, cụ thể: sinh viên đã học xong năm thứ nhất ở trường ĐHNN, có điểm TBC tích lũy từ 2,5/4,0 trở lên được phép đăng ký học thêm một chương trình đào tạo thứ hai ở các đơn vị đào tạo trong ĐHQGHN. Sau khoảng 4,5 - 5 năm, các em tốt nghiệp sẽ được cấp 2 bằng đại học chính quy. Hiện tại, sinh viên các ngành học của trường ĐHNgoại Ngữ được đăng kí học thêm một chương trình đào tạo thứ hai ngành Kinh tế Quốc tế, Tài chính-Ngân hàng của trường ĐH Kinh tế-ĐHQGHN; Học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Báo chí, Khoa học Quản lý và Quốc tế học) và ngành Luật học của khoa Luật-ĐHQGHN. Hiện tại, kể từ năm 2008 đến nay đã gần 2000 sinh viên của trường ĐHNN-ĐHQGHN theo học các chương trình này.
Sinh viên các ngành tiếng Nga, Trung, Pháp, Đức, Nhật, Hàn và Ả rập của trường được đăng kí học thêm chương trình đào tạo thứ hai ngànhNgôn ngữ Anh.
Sinh viên các ngành tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Nhật, Hàn và Ả rập của trường được đăng kí học thêm chương trình đào tạo thứ hai ngànhNgôn ngữ Trung Quốc.
 Ngoài ra, Trường liên kết với Trường ĐH Southern New Hampshire (Hoa Kỳ) tuyển sinh theo hình thức 2+2 chương trình Cử nhân Kinh tếTài chính và Kế toán-Tài chính. Liên kết với các trường ĐH Trung Quốc: ĐH Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải và ĐH Sư phạm Thiểm Tây, Tây An, liên kết với trường ĐH Picardie Jules Verne, Pháp.


Khởi đầu của sự nghiệp đào tạo đại học
Công tác chuẩn bị để thành lập Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp hôm nay đã đ­ược tiến hành từ rất sớm. Ngay khi còn là trường trung cấp, Nhà trường đã hợp tác với các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên... để mở các lớp đào tạo làm bằng đại học giá rẻ tại chức từ năm 1964, các lớp đại học chuyên tu thực hành từ năm 1983, các lớp đại học bằng 2 về quản trị kinh doanh cho cán bộ quản lý từ năm1992, các lớp cao học từ năm 1997... Thông qua các ch­ương trình đào tạo liên kết với các trường đại học, Nhà trường đã tổ chức nghiên cứu để xây dựng các ch­ương trình đào tạo đại học cho các ngành học của Trường, trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định và theo hướng tiếp cận công nghệ mới, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên của Trường làm quen với công tác giảng dạy đại học.
lịch sử trường đại học ktktcn nam định

Song song với quá trình chuẩn bị nội dung, ch­ương trình đào tạo bậc làm bằng đại học giá rẻ, đội ngũ giáo viên cũng đ­ược tăng cường tuyển mới, phân loại và tổ chức bồi dưỡng liên tục. Nhà trường đã tích cực mở các lớp bồi dưỡng sư phạm và các lớp chuyên đề về công nghệ mới tại Trường, cũng như tìm nguồn để cử giáo viên đi học tập bồi d­ưỡng ở nước ngoài. Hàng năm có từ 15 đến 20 giáo viên được đi bồi dưỡng ở các nước: Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaisia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunây... Đồng thời đã tổ chức thường xuyên các hội giảng cấp khoa, cấp trường và tham gia tích cực hội giảng cấp tỉnh, thành phố và toàn quốc. Các kỳ hội giảng đó đã giúp cho giáo viên làm bằng đại học giá rẻ và Nhà trường nhiều kinh nghiệm để đổi mới ph­ương pháp giảng dạy, nhiều giáo viên đã đạt được giải cao.
Căn cứ vào khả năng thực tế của Nhà trường và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học công nghệ, có tư duy khoa học và kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất n­ước, đặc biệt là khu vực đồng bằng Sông Hồng, Nhà trường đã được Bộ Công nghiệp đưa vào diện quy hoạch nâng cấp thành trường đại học giai đoạn 2004 - 2010. Thực hiện chỉ đạo của Bộ, năm 2005, Nhà trường đã tiến hành xây dựng Đề án thành lập Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp trên cơ sở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
Qúa trình xây dựng đề án, Nhà trường đã đ­ược Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương), Bộ Giáo dục & Đào tạo, UBND tỉnh Nam Định và các bộ, ban, ngành của trung ương và địa ph­ương đặc biệt quan tâm tạo mọi điều kiện về cấp đất mở rộng mặt bằng, đầu t­ư nâng cấp cơ sở vật chất và đội ngũ, nhanh chóng tổ chức thẩm định và trình Chính phủ ra Quyết định. Kết quả là: Ngày 11/9/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1206/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
Ngay sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nhà trường đã khẩn trương triển khai các thủ tục pháp lý cần thiết và đã đ­ược Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép mở 5 ngành đào tạo đại học, gồm: Công nghệ Dệt, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Kỹ thuật Điện, Kế tóan và Quản trị kinh doanh, với chỉ tiêu 700 SV khóa 1. Đến hôm nay, các em đã tốt nghiệp, trở thành các kỹ s­ư và cử nhân đại học.
Từ sau khi được nâng cấp thành trường đại học, lãnh đạo Trường và toàn thể cán bộ, giáo viên và HSSV đã thể hiện rõ ý chí và quyết tâm vươn lên mạnh mẽ trong bối cảnh đất nước bước vào hội nhập quốc tế. Kết quả đạt được trong thời gian 4 năm vừa qua của Nhà trường là một sự tiếp nối mạnh mẽ truyền thống và những thành tựu của hơn 50 năm trước. Đó là:
- Nhà trường tiếp tục đào tạo đa cấp; đa ngành với số l­ượng 10 ngành đại học, 15 ngành cao đẳng và 15 ngành trung cấp chuyên nghiệp. Th­ương hiệu của Nhà trường luôn được giữ vững và quy mô đào tạo ngày càng tăng cao, thể hiện rất rõ qua các kỳ tuyển sinh với số lượng thí sinh dự tuyển hàng năm rất đông, kết quả tuyển sinh luôn đạt và vượt chỉ tiêu trong phạm vi cho phép và đến nay nguồn tuyển sinh vẫn đang rất dồi dào.
- Mặt bằng đất sử dụng của Nhà trường đã được mở rộng rất lớn: Tại cơ sở Nam Định có 2 địa điểm gồm 17.000m2 ở 353 Trần Hưng Đạo và 250.000m2 tại phường Mỹ Xá (trong đó 200.000m2 chính thức và 50.000m2 tạm giao). Tại cơ sở Hà Nội cũng có 2 địa điểm gồm 7.000m2 ở 456 Minh Khai,quận Hai Bà Trưng và 20.000m2 tại phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai đã dược Thành phố Hà Nội cấp phép xây dựng.
Trong 5 năm qua, Nhà trường đã tiếp tục triển khai dự án “Quy hoạch tổng thể Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật đến năm 2020”, với tổng mức đầu t­ư trên 550 tỷ đồng. Đến nay đã thực hiện xây cơ bản xong nhà 15 tầng (cao nhất thành phố Nam Định hiện nay), 3 xưởng thực hành với diện tích trên 3.000m2; 2 nhà ký túc xá và hệ thống hạ tầng tại cơ sở tại Mỹ Xá, hệ thống sân vườn, cảnh quan của cả 2 cơ sở Hà Nội và Nam Định với mức thực hiện trên 250 tỷ đồng (trong đó 80% là vốn tự có của Trường). Đồng thời đã đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị trên 70 tỷ đồng.
Công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trong thời gian này cũng tiếp tục được tăng cường rất mạnh.


 Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để đáp ứng nhu cầu về đội ngũ cán bộ ngành Xây dựng, phục vụ cho công việc lam bang dai hoc kiến thiết đất nước sau chiến tranh. Ngày 14/02/1976 Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã Quyết định số 76/QĐ-BXD-TCCB thành lập Trường Trung học Xây dựng số 6 với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ bậc trung học kỹ thuật xây dựng và nghiệp vụ cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, địa bàn thường xuyên gánh chịu thiên tai và là khu vực khó khăn nhất trong cả nước. 
trường đại học xây dựng miền trung

Trải qua hai mươi lăm năm xây dựng và trưởng thành, với ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ của tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên các thế hệ của Nhà trường, từ một bãi cát trắng và vài căn nhà tôn cấp bốn, với 27 cán bộ, giáo viên, công nhân viên đến nay đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên đông đảo với trình độ lam bang dai hoc ngày càng được nâng cao. Cơ sở vật chất của Nhà trường phát triển mạnh mẽ, gồm hệ thống nhà làm việc, nhà lớp học, phòng thí nghiệm, ký túc xá và hệ thống các xưởng với thiết bị máy móc, thiết bị phục vụ đào tạo.
Sau 25 năm xây dựng và trưởng thành, để khẳng định sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của Nhà trường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 3069/QĐ-BGD-ĐT ngày 21/5/2001 về thành lập Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 trên cơ sở Trường Trung học Xây dựng số 6. Để tiếp tục phát triển Nhà trường trong giai đoạn mới, lãnh đạo Nhà trường đã đề ra các mục tiêu và giải pháp quan trọng, trọng đó là:
1. Xây dựng nhà trường phát triển một cách toàn diện để sớm trở thành trường lam bang dai hoc vào sau 2010.
2. Tích cực tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên đủ về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng.
3. Đổi mới phương pháp đào tạo, gắn đào tạo với thực tế sản sản xuất. Mở rộng quy mô, phát triển ngành nghề đào tạo đi đôi với việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo.
4. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị dạy học. Phát triển nguốn lực về tài chính để đầu tư cho công tác đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Thực hiện thành công các mục tiêu và giải pháp nêu trên, nhà trường đã phát triển từng bước vững chắc, khẳng định được vai trò quan trọng của nhà trường trong đào tạo nguồn nhân lực ngành Xây dựng cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Quá trình xây dựng và trưởng thành nhà trường đã hội đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn của một trường đại học chuyên ngành. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực ở bậc đại học ngành Xây dựng cho khu vực miền Trung-Tây Nguyên, ngày 28/7/2011 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1279/QĐ-TTg Về việc thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trên cơ  sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 thuộc Bộ Xây dựng. 
Sau hơn ba mươi lăm năm thành lập nhà trường đã trực tiếp đào tạo được hàng chục ngàn cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật, đã và đang phối hợp với Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Kiến trúc T.P Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nha Trang đào tạo hàng ngàn kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, kỹ sư cấp thoát nước, đô thị, cầu đường, cử nhân kế toán. Hơn 95% học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp đã được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp trên mọi miền đất nước, nhiều người hiện là cán bộ chủ chốt của ngành Xây dựng, cán bộ chủ chốt của các tỉnh Miền trung và Tây Nguyên, thương hiệu về đào tạo của nhà trường được xã hội chấp nhận.
Các ngành nhà trường đào tạo:
- Đào tạo đại học:
+ Xây dựng
+ Kiến trúc công trình
+ Kinh tế Xây dựng
- Đào tạo cao đẳng:
+ Cao đẳng Xây dựng dân dụng và công nghiệp.
+ Cao đẳng xây dựng Cấp thoát nước và môi trường.
+ Cao đẳng Kỹ thuật hạ tầng.
+ Cao đẳng Xây dựng cầu đường.
+ Cao đẳng Kinh tế xây dựng.
+ Cao đẳng Kế toán doanh nghiệp.
+ Cao đẳng Quản trị kinh doanh.
- Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp:
+ Trung cấp Xây dựng dân dụng và công nghiệp.
+ Trung cấp Kế toán doanh nghiệp.
+ Trung cấp cấp thoát nước
+ Trung cấp Kiến trúc
 - Đào tạo trung cấp nghề:
+ Kỹ thuật Nề hoàn thiện
+ Kỹ thuật Cốt thép hàn
+ Kỹ thuật Trắc địa công trình
+ Kỹ thuật Điện-nước
+ Kỹ thuật Cấp thoát nước
+ Kỹ thuật Điện công nghiệp
 Đội ngũ cán bộ giảng viên, viên chức:
- Tổng số 190 người
- Trong đó
+ PGS: 2 người
+ Tiến sĩ: 3 người
+ Thạc sỹ: 60 người
+ Đại học: 92 người ( Trong đó có 11 NCS, 25 cao học)

Kết quả đào tạo từ ngày thành lập đến nay
- Liên kết với đào tạo:
 + Kiến trúc sư: 151 người.
+ Kỹ sư Xây dựng: 1.080 người.
+ Kỹ sư Cấp thoát nước: 96 người.
+ Kỹ sư Đô thị:  52 người.
+ Kỹ sư Cầu đường: 150 người.
+ Cử nhân kế toán: 105 người
- Cao đẳng và trung cấp:   8.530 sinh viên, học sinh
- Công nhân kỹ thuật:  2.500 học sinh và bồi dưỡng cấp chứng chỉ 2.500 người

- Bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho hơn 4.000 cán bộ ngành Xây dựng
Hơn 35 năm phấn đấu xây dựng và trưởng thành với nhiều thành tích nổi bật, Nhà trường đã được Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Độc lập hạng ba; Huân chương Lao động Hạng Nhất, Nhì, Ba; nhiều bằng khen và cờ thưởng của Thủ tướng Chính phủ, bộ ngành trung ương và UBND tỉnh đây là những phần thưởng cao quý và vinh dự đối với cán bộ, giảng viên, viên chức và học sinh, sinh viên trong toàn Trường.
  Để xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân nhất là nhân dân ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung quyết tâm xây dựng và phát triển Nhà trường vững mạnh toàn diện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đào tạo nguồn nhân lực ngành Xây dựng góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước./.


Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng, tiền thân là trường Trung học TDTT Trung ương III, được thành lập ngày 13 tháng 12 năm 1977, được nâng cấp thành trường Cao đẳng TDTT Đà Nẵng năm 1997  và được Thủ tướng chính phủ quyết định làm bằng đại học thành trường Đại học TDTT III Đà Nẵng ngày 25 tháng 4 năm 2007. Đến ngày 21 tháng 2 năm 2008, theo Quyết định số 720/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, trường được đổi tên thành Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
đại học thể dục thể thao đà nẵng

Hiện nay, Trường Đại học TDTT Đà Nẵng là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ TDTT có trình độ làm bằng đại học, sau đại học và tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực TDTT. Đến nay, Trường Đại học TDTT Đà Nẵng đã đào tạo hơn 8.000 cán bộ, giáo viên, huấn luyện viên chính quy và không chính quy ở các bậc trung học, cao đẳng và đại học TDTT.
Quy mô đào tạo hiện nay của Trường gần 4.000 sinh viên với 02 chuyên ngành là Giáo dục thể chất và Quản lý TDTT (sinh viên của Trường được lựa chọn học chuyên sâu 12 chuyên ngành hẹp: Điền kinh, Thể dục, Cờ vua, Bơi lội, Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng rổ, Bóng ném, Bóng bàn, Cầu lông, Võ thuật và Thể thao giải trí). Năm 2013, Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo làm bằng đại học giao tuyển sinh đào tạo thạc sĩ ngành Giáo dục thể chất, đồng thời Trường đang trình Bộ GDĐT phê duyệt mở mã ngành Huấn luyện thể thao. Hình thức đào tạo của Trường phong phú phù hợp với nhu cầu của người học. Trường đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong giáo dục theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 do Viện tiêu chuẩn Anh (BSi) giám sát và cấp chứng nhận.
Trường có 190 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó có 130 giảng viên cơ hữu; 79% giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ; 100% cán bộ giảng dạy được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn ngạch giảng viên, trong đó có nhiều giảng có kinh nghiệm trong các lĩnh vực: Quản lý TDTT, huấn luyện thể thao, tổ chức sự kiện thể thao, trọng tài thể thao vv…; bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu, Trường còn có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng là giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, Trường còn hợp tác với một số trường của Trung Quốc, Anh, Hàn quốc, Thái Lan về đào tạo, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật
Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học ngày càng được trang bị theo hướng hiện đại và phát triển, đáp ứng yêu cầu đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu khoa học trong nhà trường. Hiện nay Trường có 02 cơ sở với diện tích 50ha được quy hoạch và đầu tư đồng bộ, xứng đán là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học TDTT của miền Trung, Tây nguyên.
Gần 35 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba năm 1997), Huân chương Lao động hạng Nhì năm 2007, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2012 cùng nhiều bằng khen, cờ thi đua của Chính phủ, của các Bộ Ngành và thành phố Đà Nẵng. 


I.  Sơ lược lịch sử phát triển của nhà trường
     Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1982, lịch sử hình thành và phát triển Trường được đổi tên và nâng cấp qua các giai đoạn:

     - Ngày 09/9/1982, Trường được thành lập làm bằng đại học giá rẻ theo quyết định số 986/CNTP của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Thực phẩm với tên gọi: Trường Cán bộ Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, nghiệp vụ kinh tế, kỹ thuật cho các cơ sở thuộc ngành Công nghiệp Thực phẩm ở phía Nam.
trường đại học công nghiệp thực phẩm tphcm


     - Ngày 03/5/1986, Trường được đổi tên thành: Trường Trung học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 25/CNTP/TCCB của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Thực phẩm. Trường có nhiệm vụ: Đào tạo làm bằng đại học giá rẻ, bồi dưỡng cán bộ kinh tế, kỹ thuật hệ Trung học cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp thuộc ngành Công nghiệp Thực phẩm ở các tỉnh, thành phố phía Nam.

     - Ngày 02/01/2001, Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 18/QĐ-BGD&ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ:  Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh tế, kỹ thuật có trình độ Cao đẳng và các trình độ làm bằng đại học giá rẻ thấp hơn (Trung học chuyên nghiệp và Công nhân kỹ thuật), nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

     - Ngày 23/02/2010, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 284/QĐ-TTg, ngày 23 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ :

+ Đào tạo các trình độ, đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề;
+ Đào tạo lại và đào tạo nâng cao;
+ Đào tạo sau đại học khi đủ điều kiện;
+ Nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ;
+ Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học;
+ Tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Hiện nay, Trường có 12 khoa, 11 phòng, ban chức năng và 07 trung tâm.
II. Những thành tựu đạt được trong các mặt hoạt động của Trường
1. Quy mô đào tạo bồi dưỡng:

     Nhà trường chú trọng các điều kiện để phát triển quy mô gắn liền với  nâng cao chất lượng đào tạo. Thực hiện đa dạng các hình thức đào tạo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho ngành và nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân. Lưu lượng học sinh sinh viên hiện nay khoảng 27.000 và sẽ tiếp tục tăng ở cả 3 hệ đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung cấp.

     Về đào tạo liên kết: liên kết với trường Đại học Ngoại ngữ - ĐH Quốc gia Hà Nội đào tạo Thạc sỹ, lên kết với một số địa phương, ngành đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề… quá trình tổ chức đào tạo liên kết đảm bảo đúng quy định, quy trình và quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công Thương.

     Về đào tạo các lớp ngắn hạn: Trường vẫn tổ chức đào tạo các lớp bổ túc nghề, vệ sinh an toàn thực phẩm, thủy sản, tin học, ngoại ngữ và các lớp đào tạo nâng bậc, đào tạo lại cho các cơ quan, xí nghiệp, công ty đóng trên địa bàn như Tổng Công ty Rượu Bia Nước giải khát Sài Gòn, Công ty Vinamilk, Công ty thuốc lá Sài gòn, phòng Giáo dục Đào tạo các Quận, Huyện, đào tạo hệ Trung cấp nghề ngành Hóa Phân tích và Công nghệ Hóa khóa 2 cho dự án sản xuất Alumina của Tập đoàn Than - Khoáng sản cho các tỉnh Tây nguyên … Quá trình tổ chức đào tạo đúng quy chế, đảm bảo chất lượng được các doanh nghiệp đánh giá cao.


2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ:
 

     Với nhận thức chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định đối với chất lượng đào tạo cũng như sự phát triển bền vững của Nhà trường. Do vậy, Nhà trường luôn quan tâm, coi trọng việc xây dựng và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên theo hướng hợp lý về cơ cấu và chuẩn hoá về trình độ. Chú trọng bồi dưỡng giáo viên đầu ngành và những cán bộ trẻ có năng lực, đặc biệt chú ý đến nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Nhà trường đã tổ chức mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giảng viên theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, nhà trường cử giáo viên, cán bộ, công nhân viên được đi nước ngoài học tập, khảo sát, tìm hiểu kinh nghiệm đào tạo của các nước như: Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc … Từ đó chất lượng giáo viên, cán bộ được nâng cao rõ rệt, phương pháp giảng dạy mới với các trang thiết bị và đồ dùng dạy học tiên tiến đang nhanh chóng thay thế cho phương pháp giảng dạy lạc hậu, thụ động. Trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ngày càng được nâng lên rõ rệt, đây là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng đào tạo. Hiện nay, tổng số CB.GV.NV cơ hữu của trường lên đến gần 600 người với 28 đầu mối quản lý chính.

     Giáo viên thỉnh giảng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhà trường. Hiện có gần 200 người cùng tham gia các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường, trong đó nhiều GS, PGS, TSKH, TS, ThS và các kỹ sư, nghệ nhân đầu ngành ở các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp góp phần đa dạng hóa chương trình đào tạo, giáo trình học tập, kỹ năng, kiến thức sát với thực tế hơn.


3. Công tác biên soạn chương trình, giáo trình và bổ sung thiết bị dạy học:
 

     Đổi mới nội dung, chương trình là yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Việc biên soạn chương trình đã trở thành nhiệm vụ quan trọng. Trong những năm qua Nhà trường đã tập trung biên soạn lại toàn bộ chương trình đào tạo các bậc học (trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cao đẳng chuyên nghiệp, cao đẳng liên thông, đại học) theo hướng gắn với nhu cầu xã hội, hiện đại và liên thông. Trường có hệ thống phòng học lý thuyết và giảng đường với gần 200 phòng, trong đó 100% các phòng được trang bị projector, tivi màn hình lớn để có thể áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến; gần 20 xưởng thực hành với các trang thiết bị đáp ứng nhu cầu đào tạo, một số xưởng trang bị thiết bị hiện đại; gần 100 phòng thí nghiệm, 2 hội trường lớn, nhiều phòng chuyên dùng cho tổ chức các ceminar, hội thảo chuyên môn và sinh hoạt sư phạm. Trường có nhiều phòng học và thi online, bắt đầu từ năm học này, để tách người dạy, người ra đề, người tổ chức thi và người thi nhà trường bổ sung thêm hơn 200 máy tính chuyên dùng cho việc thi trắc nghiệm khách quan trong hơn 70% môn thi.

4. Công tác kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất:
 

     Việc kết hợp đào tạo với lao động sản xuất, nghiên cứu thực nghiệm khoa học gắn với ngành nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đồng thời có thêm nguồn thu phục vụ cho dạy và học. Đây là một thế mạnh của Trường trong việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh.

     Trường đã đầu tư xây dựng mới Trung tâm thực hành - Thí nhiệm, trang bị thêm các thiết bị, dụng cụ tiên tiến để cho HSSV thực tập, thực hành, thường xuyên tổ chức cho HSSV đi tham quan thực tế, thực tập tốt nghiệp tại các công ty, nhà máy… chính vì thế mà HSSV có cơ hội làm quen với thực tế sản xuất, kỹ năng thực hành nghề được nâng cao.


5. Công tác xây dựng cơ sở vật chất:

     Nhà trường quan tâm đến công tác xây dựng vật chất, thời gian qua đã tập trung kinh phí xây dựng cơ sở vật chất từ đó đã cơ bản đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất hiện đại phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
     - Diện tích đất nhà trường đang được sử dụng: 34,6 ha.
     - Cơ sở đào tạo của trường: 4 cơ sở

+ Cơ sở 1: 140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh, Quận Tân Phú
+ Cơ sở 2: 54/12 Tân kỳ Tân Quý, P. Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú
+ Ký túc xá: 102-104-106 Nguyễn Quý Anh, P. Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú
+ Cơ sở đào tạo tại Trà Vinh: xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, Trà Vinh



1. Sứ mạng Trường Đại học Luật Hà Nội phấn đấu trở thành trường đại học trọng điểm quốc gia về đào tạo luật ở Việt Nam, là cơ sở hàng đầu về đào tạo làm bằng đại học tại hà nội nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về luật học, tư vấn và cung cấp các dịch vụ pháp luật cho Nhà nước, xã hội và công dân.
sứ mạng trường đại học luật hà nội

2. Tầm nhìn
Đến năm 2020, Trường Đại học Luật Hà Nội sẽ trở thành cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học luật lớn, có chất lượng và uy tín cao trong khu vực; có một số tín chỉ, chương trình đào tạo làm bằng đại học tại hà nội liên thông và được công nhận lẫn nhau với một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới.
3. Mục tiêu phát triển
Mục tiêu tổng quát
Đổi mới toàn diện công tác đào tạo của nhà trường, tạo sự chuyển biến sâu sắc về chất lượng, hiệu quả và quy mô đào tạo, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật. Phấn đấu đến năm 2015, Trường được công nhận là trường trọng điểm quốc gia về chất lượng và quy mô đào tạo cán bộ về pháp luật đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật chất lượng cao tại Việt Nam; có cơ sở vật chất hiện đại; có đội ngũ cán bộ, giảng viên hùng hậu; có năng lực hội nhập, cạnh tranh và hợp tác quốc tế mạnh mẽ. Đến năm 2020, năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật của Trường được xếp hạng trong khu vực Đông Nam Á và tiếp cận trình độ làm bằng đại học tại hà nội tiên tiến trên thế giới.
Mục tiêu cụ thể
Tạo chuyển biến đột phá về chất lượng đào tạo hệ chính quy, phấn đấu ngang bằng với trình độ các nước trong khu vực, nâng cao chất lượng đào tạo hệ không chính quy; mở rộng quy mô đào tạo hệ chính quy, văn bằng 2, thạc sĩ và tiến sĩ; duy trì hợp lí quy mô đào tạo hệ không chính quy; phát triển các hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, đáp ứng về cơ bản nhu cầu cán bộ pháp luật cho đất nước. Đến năm 2020, quy mô đào tạo của Trường ổn định ở mức từ 18.000 đến 20.000 sinh viên đại học và sau đại học.
- Phát triển mạnh và đa dạng hoá chương trình đào tạo, gồm: đào tạo cơ bản, đào tạo nâng cao, đào tạo nghề, đào tạo hướng nghiệp, đào tạo liên thông...; tham gia tích cực và chiếm thị phần lớn trong lĩnh vực đào tạo luật ở Việt Nam; có đủ năng lực thực hiện đào tạo theo các đề án, chương trình hợp tác với các bộ, ngành và địa phương; đào tạo theo đơn đặt hàng của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
- Xây dựng Trường thành trung tâm nghiên cứu, trung tâm học thuật và trao đổi các ý tưởng khoa học pháp lí có uy tín tại Việt Nam. Ưu tiên công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế; hình thành các trường phái khoa học pháp lí của Việt Nam. Đến năm 2015, hàng năm có từ 10 đến 15% số giảng viên luật có công trình, bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế về chuyên ngành luật. Đến năm 2020, tỉ lệ này là 20%.
- Đưa tư vấn pháp luật trở thành hoạt động thường xuyên và là một trong những thế mạnh của nhà trường. Tập trung vào công tác tư vấn, phản biện chính sách phát triển kinh tế-xã hội, chính sách pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lí chất lượng cao. Đến năm 2015, tổng nguồn thu từ hoạt động dịch vụ pháp lí chiếm khoảng 10% tổng nguồn thu của Trường. Đến năm 2020, tỉ lệ này là 15%.
- Phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ về số lượng và mạnh về chất lượng. Đến năm 2015 đạt 80% giảng viên có trình độ sau đại học và đến năm 2020 đạt 90%. Đến năm 2015, có 40% giảng viên là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và đến năm 2020 tỷ lệ này là 50%. Khai thác hiệu quả đội ngũ giảng viên thỉnh giảng, đến năm 2020 giảng viên thỉnh giảng có thể đảm nhiệm khoảng trên 20% khối lượng công việc giảng dạy của Trường.
- Kiện toàn mô hình tổ chức và bộ máy quản lí của nhà trường theo Điều lệ trường đại học. Đến năm 2020, hình thành mô hình quản trị đại học hiện đại trong nhà trường.
- Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật. Đến năm 2015, Trường có cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại, tương xứng với vị thế của trường đại học trọng điểm quốc gia.
- Nâng cao năng lực hội nhập, cạnh tranh và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật. Đến năm 2015, có 1 đến 2 chuyên ngành đào tạo đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, đến năm 2020 nâng lên từ 3 đến 4 chuyên ngành. Đến năm 2015 có từ 15 đến 20 giảng viên và năm 2020 có từ 30 đến 40 giảng viên có thể giảng dạy ở nước ngoài.


Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là trường đào tạo luật hàng đầu ở khu vực phía Nam, đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu làm bằng đại học tại tphcm để góp phần xây dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới và các quốc gia trong khu vực.
Website Đại học Luật TP.HCM là nơi cung cấp thông tin chính thức của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho cán bộ, giảng viên, sinh viên trong Trường; các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong nước và nước ngoài có nhu cầu tìm hiểu, hợp tác với nhà trường.
lịch sử trường đại học luật tphcm

Cơ cấu tổ chức
Ban giám hiệu Trường Đại học Luật TPHCM nhiệm kỳ 2008-2013 gồm:
1. Hiệu trưởng: Nhà giáo Ưu tú - Giáo sư - Tiến sĩ Mai Hồng Quỳ
2. Phó Hiệu trưởng: Phó giáo sư - Tiến sĩ Trần Hoàng Hải
3. Phó Hiệu trưởng: Phó giáo sư - Tiến sĩ Bùi Xuân Hải
4. Phó Hiệu trưởng: Thạc sĩ Lê Trường Sơn
Hoạt động của Ban giám hiệu tuân theo Luật Giáo dục và Điều lệ trường làm bằng đại học tại tphcm (ban hành theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ) và các quy định khác của pháp luật.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
Hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật và của Điều lệ trường đại học.
Hiệu trưởng có những quyền hạn và trách nhiệm:
Về tổ chức và nhân sự
1. Quyết định thành lập và giải thể các tổ chức làm bằng đại học tại tphcm của trường được quy định tại điểm c, d, đ, e, g, h khoản 1 Điều 29 của Điều lệ trường đại học.
2. Ban hành và bãi bỏ các nội quy, quy định trong nội bộ trường nhằm đảm bảo việc điều hành, kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của trường theo đúng các quy định hiện hành.
3. Quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh trong các tổ chức được quy định tại điểm c khoản 1, trưởng, phó các đơn vị quy định tại các điểm d, đ, e, g, h khoản 1 Điều 29 của Điều lệ trường đại học.
4. Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, tổ chức việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội.
5. Tổ chức thi tuyển cán bộ, nhân viên, quyết định việc tiếp nhận, chuyển ngạch các chức danh từ giảng viên chính trở xuống; được cơ quan chủ quản nhà trường uỷ quyền tổ chức thi nâng ngạch và bổ nhiệm vào ngạch từ giảng viên chính trở xuống theo quy định của nhà nước, phù hợp với cơ cấu cán bộ, nhân viên của trường và tiêu chuẩn chức danh của ngành giáo dục.
Ký quyết định tuyển dụng, thôi việc và thuyên chuyển công tác giảng viên, cán bộ, nhân viên và ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
6. Thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ trong các hoạt động của nhà trường do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
7. Bảo đảm quyền lợi người học theo quy định của Điều lệ trường đại học.
8. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về các mặt hoạt động của trường theo quy định hiện hành.
9. Thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật theo quy định của nhà nước.
10. Đảm bảo trật tự, an ninh và an toàn trong nhà trường.
Về hoạt động đào tạo
1. Tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo được quy định tại Chương II của Điều lệ trường đại học.
2. Chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của nhà trường.
Về hoạt động khoa học và công nghệ
1. Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học, công nghệ của trường và báo cáo các cơ quan có thẩm quyền.
2. Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp nhà nước.
3. Tham gia quản lý và tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp bộ.
4. Xét duyệt, quản lý và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp trường.
5. Xây dựng, tổ chức, quản lý các nguồn thông tin khoa học và công nghệ và các dịch vụ khoa học và công nghệ.

Về tài chính, tài sản và đầu tư
1. Hiệu trưởng là chủ tài khoản của trường đại học, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của đơn vị.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý tài chính, tài sản tại các Điều 52, 55 của Điều lệ trường đại học và các quy định về lao động, tiền lương, tiền công, học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, các chế độ chính sách tài chính đối với giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học của trường.
3. Quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, tuỳ theo nội dung và hiệu quả công việc quy định tại Điều 55 của Điều lệ trường đại học.
4. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Hiệu trưởng các trường công lập được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc Thủ trưởng cơ quan chủ quản ủy quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của nhà nước.
5. Hiệu trưởng thực hiện việc quyết định đầu tư và quản lý các dự án từ ngân sách nhà nước theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do Chính phủ ban hành.
6. Căn cứ vào quy hoạch hoặc kế hoạch phát triển nhà trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết nghị của Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng chịu trách nhiệm xem xét, quyết định đầu tư và phê duyệt tất cả các dự án, thủ tục xây dựng cơ bản, mua sắm, thanh lý tài sản từ nguồn vốn nêu tại các khoản 2 và 3 Điều 53 của Điều lệ trường đại học.
Về quan hệ quốc tế
1. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quan hệ quốc tế được quy định tại Chương V của Điều lệ trường đại học.
2. Quyết định cử cán bộ từ Phó Hiệu trưởng trở xuống đi công tác ở nước ngoài trên cơ sở những quy định hiện hành của nhà nước.
3. Quản lý các đoàn ra, đoàn vào trong phạm vi hoạt động của trường theo quy định của pháp luật.
4. Định kỳ báo cáo cơ quan chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác quan hệ quốc tế của trường.