Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là trường đào tạo luật hàng đầu ở khu vực phía Nam, đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu làm bằng đại học tại tphcm để góp phần xây dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới và các quốc gia trong khu vực.
Website Đại học Luật TP.HCM là nơi cung cấp thông tin chính thức của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho cán bộ, giảng viên, sinh viên trong Trường; các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong nước và nước ngoài có nhu cầu tìm hiểu, hợp tác với nhà trường.
lịch sử trường đại học luật tphcm

Cơ cấu tổ chức
Ban giám hiệu Trường Đại học Luật TPHCM nhiệm kỳ 2008-2013 gồm:
1. Hiệu trưởng: Nhà giáo Ưu tú - Giáo sư - Tiến sĩ Mai Hồng Quỳ
2. Phó Hiệu trưởng: Phó giáo sư - Tiến sĩ Trần Hoàng Hải
3. Phó Hiệu trưởng: Phó giáo sư - Tiến sĩ Bùi Xuân Hải
4. Phó Hiệu trưởng: Thạc sĩ Lê Trường Sơn
Hoạt động của Ban giám hiệu tuân theo Luật Giáo dục và Điều lệ trường làm bằng đại học tại tphcm (ban hành theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ) và các quy định khác của pháp luật.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
Hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật và của Điều lệ trường đại học.
Hiệu trưởng có những quyền hạn và trách nhiệm:
Về tổ chức và nhân sự
1. Quyết định thành lập và giải thể các tổ chức làm bằng đại học tại tphcm của trường được quy định tại điểm c, d, đ, e, g, h khoản 1 Điều 29 của Điều lệ trường đại học.
2. Ban hành và bãi bỏ các nội quy, quy định trong nội bộ trường nhằm đảm bảo việc điều hành, kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của trường theo đúng các quy định hiện hành.
3. Quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh trong các tổ chức được quy định tại điểm c khoản 1, trưởng, phó các đơn vị quy định tại các điểm d, đ, e, g, h khoản 1 Điều 29 của Điều lệ trường đại học.
4. Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, tổ chức việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội.
5. Tổ chức thi tuyển cán bộ, nhân viên, quyết định việc tiếp nhận, chuyển ngạch các chức danh từ giảng viên chính trở xuống; được cơ quan chủ quản nhà trường uỷ quyền tổ chức thi nâng ngạch và bổ nhiệm vào ngạch từ giảng viên chính trở xuống theo quy định của nhà nước, phù hợp với cơ cấu cán bộ, nhân viên của trường và tiêu chuẩn chức danh của ngành giáo dục.
Ký quyết định tuyển dụng, thôi việc và thuyên chuyển công tác giảng viên, cán bộ, nhân viên và ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
6. Thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ trong các hoạt động của nhà trường do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
7. Bảo đảm quyền lợi người học theo quy định của Điều lệ trường đại học.
8. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về các mặt hoạt động của trường theo quy định hiện hành.
9. Thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật theo quy định của nhà nước.
10. Đảm bảo trật tự, an ninh và an toàn trong nhà trường.
Về hoạt động đào tạo
1. Tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo được quy định tại Chương II của Điều lệ trường đại học.
2. Chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của nhà trường.
Về hoạt động khoa học và công nghệ
1. Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học, công nghệ của trường và báo cáo các cơ quan có thẩm quyền.
2. Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp nhà nước.
3. Tham gia quản lý và tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp bộ.
4. Xét duyệt, quản lý và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các đề tài hợp tác quốc tế, các dự án phát triển cấp trường.
5. Xây dựng, tổ chức, quản lý các nguồn thông tin khoa học và công nghệ và các dịch vụ khoa học và công nghệ.

Về tài chính, tài sản và đầu tư
1. Hiệu trưởng là chủ tài khoản của trường đại học, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của đơn vị.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý tài chính, tài sản tại các Điều 52, 55 của Điều lệ trường đại học và các quy định về lao động, tiền lương, tiền công, học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, các chế độ chính sách tài chính đối với giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học của trường.
3. Quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, tuỳ theo nội dung và hiệu quả công việc quy định tại Điều 55 của Điều lệ trường đại học.
4. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Hiệu trưởng các trường công lập được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc Thủ trưởng cơ quan chủ quản ủy quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của nhà nước.
5. Hiệu trưởng thực hiện việc quyết định đầu tư và quản lý các dự án từ ngân sách nhà nước theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do Chính phủ ban hành.
6. Căn cứ vào quy hoạch hoặc kế hoạch phát triển nhà trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết nghị của Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng chịu trách nhiệm xem xét, quyết định đầu tư và phê duyệt tất cả các dự án, thủ tục xây dựng cơ bản, mua sắm, thanh lý tài sản từ nguồn vốn nêu tại các khoản 2 và 3 Điều 53 của Điều lệ trường đại học.
Về quan hệ quốc tế
1. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quan hệ quốc tế được quy định tại Chương V của Điều lệ trường đại học.
2. Quyết định cử cán bộ từ Phó Hiệu trưởng trở xuống đi công tác ở nước ngoài trên cơ sở những quy định hiện hành của nhà nước.
3. Quản lý các đoàn ra, đoàn vào trong phạm vi hoạt động của trường theo quy định của pháp luật.
4. Định kỳ báo cáo cơ quan chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác quan hệ quốc tế của trường.


Trường Đại học Công nghệ GTVT là trường Đại học công lập, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải. Lịch sử nhà trường phát triển qua các thời kỳ:
Thời kỳ thuộc Pháp từ năm 1945 về trước ở Việt Nam đã có Trường Cao đẳng Công chính từ năm 1902. Sơ lược sự phát triển hệ thống làm bằng đại học trường lớp đào tạo cán bộ giao thông vận tải như sau: 
- 06/6/1902 mở Trường Thư ký và cán sự chuyên môn công chính đặt tại Hà Nội.
- 15/4/1913 Đổi tên thành Trường Công chính vẫn đặt tại Hà Nội. Đào tạo cán sự trung cấp chuyên môn công chính, thời gian đào tạo: 2 năm
trường đại học công nghệ giao thông vận tải


- 1918 nâng trường lên: Trường Cao đẳng Công chính nhưng đào tạo trung cấp kỹ thuật là chính, mãi đến năm 1923-1924 có tuyển một số học xong cán sự công chính học thêm 1 năm để thành công trình sư (lớp có 4 người)

- Năm 1925: Đào tạo cán sự chuyên môn người bản xứ (thời thuộc Pháp, những người sinh ra ở Nam bộ, Hà Nội, Hải phòng, Đà nẵng được xem như dân Pháp) cho các sở công chính, địa chính, thời gian đào tạo tăng lên 3 năm trong giai đoạn làm bằng đại học này, năm 1925-1926 mở lớp công trình sư cho 5 người.

- Trường Công chính tạm ngừng nhận sinh viên vào học từ năm 1931-1938 vì nhu cầu nhân sự.

- 8/1938 Trường tái hoạt động trở lại vẫn đào tạo cán sự công chính, thời gian đào tạo 3 năm, cho các khoá: 1938-1941, 1939-1942, 1941-1944, còn khoá 1942-1944 học được 2 năm đến đầu tháng 3/1945 thì Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, khoá học đình chỉ, sinh viên trở về quê. Sau này một số trở lại học hoàn thiện ở Trường Cao đẳng công chính dưới chính quyền cách mạng, hoặc trường dưới chế độ Nguỵ lập ra từ năm 1947 ở Sài gòn.

- Năm 1943-1944 chọn 3 sinh viên đỗ đầu khoá 1938-1941, 5 sinh viên có kết quả học tập đạt 13 điểm trở lên khoá 1939-1942, vào học lớp kỹ sư đầu tiên, thời gian học 10 tháng (khi đó lớp có SV Nguyễn Nhật Quang và SV Vũ Đức Thận là Hiệu trưởng của Trường sau này). Năm 1944 máy bay B24 Mỹ ném bom các cơ sở làm bằng đại học của quân Nhật nên lớp kỹ sư này dời vào Đà lạt và tháng 9/1944 mới tốt nghiệp ra Trường.

- Tuy thời gian đào tạo trên 40 năm (từ 6/1902 đến tháng 3/1945) nhưng số lượng đào tạo được rất ít, theo thống kê của lớp tiền bối đi trước thì số lượng đào tạo các hệ từ 1902-1945 có 13 khoá học được 204 người, trong đó có 2 lớp công trình sư (1923 và 1925-1926) là 9 người và 1 lớp kỹ sư năm 1944 là 8 người còn lại là cán sự công chính: 187 người.


Tháng tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã dành được độc lập, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà- Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á. Trong điều kiện còn muôn vàn khó khăn, trước tình cảnh thù trong, giặc ngoài nhưng Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã quan tâm tới việc”diệt giặc dốt”, tạo tiền đề cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để xây dựng đất nước, kiến thiết nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc:”Dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá”.

Ngành giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, có vị trí rất quan trọng, liên quan đến mọi mặt của nền kinh tế, xã hội, quốc phòng. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho ngành Giao thông vận tải trở thành yêu cầu cấp bách và hết sức cần thiết lúc bấy giờ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Trường Cao đẳng Công chính- tiền thân của Trường Cao đẳng Giao thông vận tải ngày nay- đã được khai giảng lại ngày 15 tháng 11 năm 1945 theo Nghị định của Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè và Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Đào Trọng Kim. Trụ sở của Trường được đặt tại 33 phố Hàng Tre. Ông Nguyễn Như Quỹ, kỹ sư hạng tư ngạch công chánh, Giám đốc Nha Hoả xa được giao nhiệm vụ Hiệu trưởng Nhà Trường.

Tháng 12/1946, Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Trường Cao đẳng Công chính tạm ngừng đào tạo, đi sơ tán và phục vụ kháng chiến.

Tháng 10/1947, tại nơi sơ tán (Chùa Viên Đinh, làng Chuôm thuộc Cống Thần- Chợ Đại, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông) đã chính thức khai giảng khoá đầu tiên của Trường Cao đẳng Công chính gồm 3 lớp (2 lớp cao đẳng, 1 lớp Trung đẳng).

Thực dân Pháp âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng, uy hiếp Hà Đông. Tháng 4/1948 Trường phải di chuyển vào huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Ông Đặng Phúc Thông, Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính trực tiếp làm Hiệu trưởng Nhà trường. Đến tháng 7 năm 1949, Nhà trường tổ chức kỳ thi quốc gia khoá 1 cho hai hệ Cao đẳng và Trung đẳng. Đã có 17sinh viên tốt nghiệp, trong đó có 7 sinh viên Cao đẳng Kỹ sư, 10 học sinh tốt nghiệp Trung đẳng.

Tháng Hai năm 1949, theo Sắc lệnh số 2 SL, ngày 01 tháng 02 năm 1949 của Chính phủ về việc thành lập Trường Cao đẳng kỹ thuật và Nghị định số 60-D/SH ngày 24 tháng 02 năm 1949 của Bộ Giao thông công chính, Nhà trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Kỹ thuật, có nhiệm vụ đào tạo lực lượng cán bộ kỹ thuật về giao thông công chính, kiến trúc, bưu điện… đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.



Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (59C Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3, TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 08.38295299 - Fax: 08.38250359) được thành lập trên cơ sở hợp nhất Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (thành lập năm 1976), Trường làm bằng đại học tại tphcm (thành lập năm 1976) và Khoa Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, theo quyết định số 2819/GD-ĐT ngày 09/7/1996 của Bô trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngày 10/10/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 118/2000/QĐ-TTg về việc thay đổi tổ chức của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, theo quyết định này Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tách ra thành Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.
lịch sử trường đại học kinh tế tphcm

Trường làm bằng đại học tại tphcm là một trường đại học đa ngành, với nhiều bậc, hệ đào tạo đa dạng. Trường có đội ngũ giáo sư, giảng viên được đào tạo từ nhiều nguồn, có trình độ cao, có uy tính khoa học và chuyên môn. Đây là một trong những điều kiện chính để trường từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao vị thế và uy tín của mình trong xã hội. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là trường có số lượng người học thuộc các bậc, hệ đào tạo, từ Cử nhân đến Thạc sĩ, Tiến sĩ được coi là lớn nhất nước. Hiện nay, trường đào tạo bậc đại học theo hai loại hình chính quy và vừa làm vừa học, đào tạo sau đại học theo loại hình không tập trung; lưu lượng sinh viên, học viên của trường hàng năm khoảng trên 50.000.
Mục tiêu của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là đào tạo làm bằng đại học tại tphcm, bồi dưỡng và cung cấp cho xã hội các nhà hoạch định chính sách kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, kinh doanh và luật. Mục tiêu chủ yếu thứ hai của trường là nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực kinh tế, quản lý, kinh doanh và luật, nhằm tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước; đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về kinh tế trong điều kiện Việt Nam. Trường luôn mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường đại học và các tổ chức trong và ngoài nước, nhằm từng bước bắt kịp chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường đại học tiên tiến trên thế giới; quốc tế hóa kiến thức cho người học, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong tương lai.
Hiện nay, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là một trong 14 trường đại học trọng điểm của quốc gia. Từ khi thành lập (1976) đến nay, trường đã đào tạo hàng chục ngàn cán bộ, nhà kinh tế, nhà quản lý có trình độ đại học và sau đại học cho cả nước; đảm bảo chất lượng, uy tín và được xã hội thừa nhận. Từ những thành tích xuất sắc trong quá trình xây dựng và phát triển, tập thể cán bộ, giảng viên và nhân viên trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã được Chủ tịch nước trao tặng 02 Huân chương Lao động hạng Ba (1986), 02 Huân chương Lao động hạng Nhì (1991), 02 Huân chương Lao động hạng Nhất (1996), Huân chương Độc lập hạng Ba (2001), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2010) và danh hiệu Anh hùng Lao động (2006).


Trường Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 709/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 26 tháng 8 năm 2002, mang sứ mạng rất quan trọng là "một đại học chuyên ngành ngoại ngữ, có sứ mạng đào tạo làm bằng đại học nguồn nhân lực chất lượng cao về trình độ ngoại ngữ, đồng thời là trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài, đáp ứng công tác giáo dục, đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế, góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên và của cả nước".
lịch sử trường đại học ngoại ngữ đà nẵng

      Từ sau khi có Quyết định của Chính phủ, Đại học Đà Nẵng đã nhanh chóng triển khai các công tác trước mắt về sửa chữa xây dựng cơ sở vật chất của trường làm bằng đại học, công tác nhân sự và chuẩn bị cho bộ máy trường Đại học Ngoại ngữ sớm đi vào hoạt động.
       Ngày 02 tháng 6 năm 2003, Đảng uỷ Đại học Đà Nẵng đã có phiên họp thống nhất về công tác nhân sự cho trường Đại học Ngoại ngữ. Kể từ ngày 10 tháng 6 năm 2003, trường Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Đà Nẵng đã chính thức hoạt động trên cơ sở các Quyết định của Chính phủ, Bộ GD & ĐT và Giám đốc Đại học Đà Nẵng về cán bộ chủ chốt của Trường.
       Trường Đại học Ngoại ngữ là đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập, là một trong sáu trường thành viên chịu sự quản lý trực tiếp của Đại học Đà Nẵng.
        
2. Chức năng - nhiệm vụ
      Trường Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Đà Nẵng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên ngoại ngữ, đào tạo làm bằng đại học và bồi dưỡng cán bộ ngoại ngữ phục vụ khu vực miền Trung và Tây Nguyên và cả nước đồng thời là trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Cụ thể, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng có chức năng nhiệm vụ sau:
       - Đào tạo giáo viên và chuyên gia ngôn ngữ có trình độ đại học tại một số ngôn ngữ thông dụng trên thế giới.
       - Đào tạo cử nhân khoa học và sau đại học
       - Giảng dạy ngoại ngữ cho các trường thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng.
       - Đào tạo bồi dưỡng ngoại ngữ chuyên ngành.
       - Bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ các trường phổ thông.
       - Giảng dạy tiếng Việt và giới thiệu Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài.
        - Nghiên cứu khoa học và thực hiện các dịch vụ xã hội thuộc lĩnh vực ngoại ngữ
        - Mở rộng quan hệ hợp tác Quốc tế và giao lưu văn hoá. 

         - Giảng dạy và tổ chức thi các chứng chỉ quốc tế
Một số ngành đào tạo chính của Nhà trường:
   * Bậc đại học

       1. Sư phạm tiếng Anh
       2. Cử nhân tiếng Anh
       3. Sư phạm tiếng Nga
       4. Cử nhân tiếng Nga
       5. Sư phạm tiếng Pháp
       6. Cử nhân tiếng Pháp
       7. Sư phạm tiếng Trung
       8. Cử nhân tiếng Trung
       9. Cử nhân tiếng Nhật
       10. Cử nhân tiếng Hàn Quốc
       11. Cử nhân tiếng Thái Lan
       12. Cử nhân Quốc tế học
       13. Tiếng Việt và cơ sở văn hóa dành cho người nước ngoài
       14. Cử nhân tiếng Anh Thương mại
       15. Cử nhân tiếng Trung Thương mại
       16. Cử nhân tiếng Pháp du lịch
       17. Cử nhân Sư phạm tiếng Anh bậc tiểu học 
   * Sau đại học

       18. Thạc sĩ Ngôn ngữ Anh 
       19. Thạc sĩ Ngôn ngữ Pháp
       20. Tiến sĩ Ngôn ngữ Anh
 
3. Mục tiêu
      Trường Đại học Ngoại ngữ là đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập, dưới sự quản lý trực tiếp của Đại học Đà Nẵng. Mục tiêu của trường là phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo giáo viên và cán bộ ngoại ngữ đồng thời là trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên.

4. Hợp tác Quốc tế
     Trường có quan hệ hợp tác với nhiều Trường Đại học, Viện nghiên cứu trong nước và Quốc tế.
    Viện khoa học Giáo dục, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, các Sở Giáo dục và Đào tạo, các Trung tâm Giáo dục thường xuyên các địa phương.
    Các Trường Đại học và Viện nghiên cứu tại Cộng hoà Liên bang Nga và các nước SNG (Viện Puskin Institute), Hội đồng Anh(British Council), Mỹ, Canada (World University Service of Canada),Úc (The University of Queensland), Pháp (Agence Universitaire de la Francophone Crefap), Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Singapore, KOICA Hàn Quốc, JICA Nhật Bản...


5. Nhân sự của trường
        Hiện nay Trường Đại học Ngoại ngữ có 274 Cán bộ viên chức, trong đó 208 Cán bộ giảng viên, 51 Giảng viên chính, 158 Giảng viên, 45 Chuyên viên, 66 Hành chính - Phục vụ, 23 ngạch khác.
        Học hàm, học vị: Nhà trường có: 02 Phó Giáo sư, 19 Tiến sĩ, 142 Thạc sĩ, 90 Đại học. Hầu hết Cán bộ giáo dục của nhà trường được đào tạo tại các cơ sở có uy tín của nước ngoài và phần lớn Cán bộ giáo dục có 2 bằng thạc sĩ trong và ngoài nước.



Trường Đại học Khoa học Huế - Đại học Huế (gọi tắt là trường Đại học Khoa học Huế ), tiền thân là trường Đại học Tổng hợp Huế, được thành lập lam bang dai hoc theo Quyết định số 426/TTg ngày 27-10-1976 của Thủ tướng chính phủ trên cơ sở sát nhập Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa của Viện Đại học Huế trước đây (Viện ĐH Huế thành lập năm 1957). Năm 1994, theo Nghị định số 30/CP của Chính phủ về việc thành lập Đại học Huế, trường Đại học Tổng hợp trở thành trường thành viên của Đại học Huế và được đổi tên thành trường Đại học Khoa học.
trường đại học khoa học huế

Sứ mạng của Trường Đại học Khoa học Huế được xác định như sau: "Trường Đại học Khoa học- Đại học Huế là cơ sở đào tạo lam bang dai hoc, sau đại học đa ngành, đa lĩnh vực và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội-nhân văn, kỹ thuật và công nghệ; là nơi cung cấp nguồn nhân lực và sản phẩm khoa học công nghệ chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trực tiếp là các tỉnh miền Trung- Tây Nguyên".
Hiện nay Trường có 13 khoa, 1 bộ môn trực thuộc, 6 phòng chức năng, 5 trung tâm, và 01 trung tâm thông tin thư viện. Tổng số CBCC, lao động là 430 người, trong đó có 314 CBGD, 32 PGS, 81 Tiến sĩ, 192Thạc sĩ, 89 giảng viên chính, 05 chuyên viên chính và thư viện viên chính.
Trường đang đào tạo 08 chuyên ngành NCS, 29 chuyên ngành thạc sĩ, 23 chuyên ngành Cử nhân, 02 chuyên ngành đào tạo THCN và đào tạo THPT khối chuyên Toán, Văn, Hoá, Sinh. Tổng số học viên, sinh viên lam bang dai hoc, học sinh của Trường hiện nay gần 10 ngàn; tuyển sinh hàng năm hơn 1.500 sinh viên chính quy, 1.500 sinh viên hệ vừa làm vừa học và 500 hệ chuyên tu - bằng hai, quy mô tăng từ 10 - 12%.
Khuôn viên của Trường có diện tích 3,7ha; với 09 tòa nhà đã và đang được xây dựng với 92 phòng học đạt tiêu chuẩn, trong đó có 12 phòng được trang bị hệ thống nghe nhìn hiện đại; 47 phòng thí nghiệm cơ bản, phòng thí nghiệm chuyên đề, phòng tư liệu và phòng bảo tàng; 08 phòng thực hành máy tính (gần 400 máy tính) và 01 thư viện trung tâm. Các phòng thí nghiệm được xây dựng hiện đại, thư viện có nguồn tài liệu bao gồm sách, báo, tạp chí… đáp ứng tốt cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của cán bộ, sinh viên, học viên của Trường.
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Trường đã đào tạo được gần 30 ngành cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, THCN, THPT... trong đó có hơn 15 ngàn cử nhân hệ chính quy.
Trường Đại học Khoa học Huế luôn chú trọng kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học. Đến nay, Trường đã và đang thực hiện 1.535 đề tài NCKH, trong đó có 22 đề tài hợp tác quốc tế, 4 đề tài cấp Nhà nước, 159 đề tài nghiên cứu cơ bản, 312 đề tài cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm, 108 đề tài cấp Tỉnh, 614 đề tài cấp cơ sở và 314 đề tài nghiên cứu của sinh viên.
Trường có mối quan hệ hợp tác với nhiều trường Đại học và các viện nghiên cứu như: Pháp, Anh, Nhật Bản, Úc, Mỹ, Đức, Thái Lan, New Zealand, Canada, Đan Mạch, Ý, Hà Lan….
Theo kế hoạch chiến lược phát triển của Trường đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 như sau:
- Từ 2009 – 2010, Trường có 530 cán bộ, trong đó CBGD có trình độ SĐH chiếm từ 70-80% .
- Từ 2011 – 2015, có 650 cán bộ, trong đó CBGD có trình độ SĐH là 80-90% (30% tiến sĩ, tiến sĩ khoa học; 40% GVC trở lên, 7% PGS và GS và 2% giảng viên cao cấp).
- Đến giai đoạn 2016 – 2020, có 750 cán bộ, trong đó có 90-95% CBGD có trình độ SĐH (60% giảng viên có trình độ thạc sĩ và 35% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ).

- Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội thực tiễn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
- Phát huy thế mạnh về đội ngũ và trang thiết bị hiện có để phấn đấu trở thành một trung tâm nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở khu vực Miền Trung.
- Xây dựng đề tài đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực; đề tài ứng dụng và chuyển giao công nghệ, góp phần quy hoạch phát triển bền vững và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Phát huy truyền thống hơn 30 năm xây dựng và phát triển, trong những năm tới Trường sẽ không ngừng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô đào tạo và NCKH. Chú trọng mở một số ngành đào tạo mới theo hướng công nghệ - ứng dụng; tăng quy mô đào tạo hợp lý phù hợp thế mạnh đội ngũ, CSVC của Trường nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội; tích cực điện tử hoá bài giảng, xuất bản giáo trình; trang bị phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm hiện đại, chất lượng cao; áp dụng đào tạo tín chỉ cho các ngành học. Tăng cường liên kết với các đối tác để tiến hành ký kết hợp tác nghiên cứu các đề tài trọng điểm, các đề tài có tính chuyển giao công nghệ, ứng dụng cao và tham gia thỉnh giảng trao đổi chuyên môn.


Tiếp nối truyền thống 55 năm xây dựng và phát triển của Đại học Huế, trường Đại học Ngoại ngữ đang tích cực chuyển mình và từng bước hoàn thiện về mọi mặt làm bằng đại học tại hà nội, phấn đấu trở thành một trường đại học hàng đầu trong khu vực và trên cả nước về giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực ngoại ngữ, ngôn ngữ - văn hóa... Trên cơ sở các khoa ngoại ngữ của các trường thành viên trong Đại học Huế, trường được hình thành và hoạt động độc lập kể từ tháng 7 năm 2004. 
lịch sử trường đại học ngoại ngữ huế

Từ ngày thành lập đến nay, Trường Đại học Ngoại ngữ đã không ngừng lớn mạnh, giữ vững và phát huy các thế mạnh sẵn có cũng như liên tục mở các mã ngành đào tạo mới, tăng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm. Các ngôn ngữ đang được đào tạo tại trường gồm tiếng Anh, Pháp, Trung, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan... và các ngành đào tạo bao gồm sư phạm, biên-phiên dịch, ngôn ngữ và văn hóa, du lịch... Bên cạnh các ngành học truyền thống, trường còn thành lập các khoa Quốc tế học, Việt Nam học, Úc học... Ngoài ra, trường còn thực hiện nhiều dự án đào tạo làm bằng đại học tại hà nội lưu học sinh, phiên dịch, chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế và ngoại ngữ chuyên ngành thao đơn đặt hàng của các trường đối tác, cơ quan, doanh nghiệp. Nhà trường tạo mọi điều kiện cho sinh viên được học dưới những hình thức học tập đa dạng, linh hoạt như chính quy, không chính quy, vừa làm vừa học, liên thông, từ xa, liên kết, tập trung, bán tập trung... để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và cả nước.
Sứ mệnh của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế được xác định như sau: "Đào tạo và nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao năng lực làm bằng đại học tại hà nội ngoại ngữ và hiểu biết văn hóa của người Việt Nam trước hết là những người dân miền Trung và Tây Nguyên và người nước ngoài vì sự hiểu biết và gắn kết giữa các dân tộc trong khu vực."

Trường hiện có 9 khoa (Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiến Trung, Ngôn ngữ và văn hóa Nhật BảnNgôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc, Tiếng Anh chuyên ngành, Quốc tế học, Việt Nam học), 5 phòng chức năng, 5 trung tâm trực thuộc với tổng số CBVC 250 người. Chỉ trong 5 năm kể từ ngày thành lập, trường đã tích cực động viên cán bộ bồi dưỡng chuyên môn. Hiện nay trường có 05 PGS, 19 TS, 107 Thạc sĩ, 45 GVC, 76 cán bộ hợp đồng giảng dạy, chuyên viên và nhân viên phục vụ. Con số này không ngừng tăng lên và ước tính trong 5 năm tới, trường sẽ tăng đội ngũ CBVC có học hàm học vị cao lên 70%.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý, phục vụ đào tạo của trường luôn được tạo điều kiện để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Phong cách làm việc của cán bộ năng động, hiệu quả, có trình độ chuyên môn cao, có ngoại ngữ tốt và kỹ năng linh hoạt... là một trong những thế mạnh góp phần vào việc ổn định và phat triển trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế.


Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học



Hầu hết đội ngũ giáo viên của trường đã và đang được đào tạo có học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ ở các nước tiên tiến như Anh, Bỉ, Hoa Kỳ, Niu-Di-Lân, Nga, Nhật Bản, Pháp, Úc, Trung Quốc... Hàng năm trường liên tục gửi các giáo viên trẻ đi đào tạo ở nước ngoài theo các chương trình học bổng liên kết, hợp tác quốc tế, học bổng Nhà nước, học bổng phát triển giữa hai quốc gia. Đội ngũ các nhà giáo được đào tạo chính quy, có trình độ, kinh nghiệm chuyên môn và phương pháp giảng dạy hiện đại đã đáp ứng được yêu cầu đào tạo tín chỉ với mục tiêu nâng cao chất lượng mà trường đang hướng tới.

Với quy mô gần 3000 sinh viên chính quy và gần 1500 sinh viên không chính quy và học viên cao học, nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên, học viên linh hoạt lựa chọn các loại hình đào tạo chính quy, không chính quy, vừa làm vừa học, văn bằng hai, học cùng lúc 2 chương trình, liên thông, chuyển đổi... nhằm đáp ứng nhu cầu về việc làm của sinh viên, học viên trong tương lai.

Nhờ định hướng phát triển công tác hợp tác quốc tế trên lĩnh vực đào tạo, nhà trường có rất nhiều chương trình liên kết với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài như 1+3, 2+2, 3+1 về tiếng Anh, tiếng trung, tiếng Việt, song ngữ Anh-Việt và các chương trình trao đổi thực tập ngắn hạn với các trường đại học ở Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc. Nhờ đó, sinh viên viên có thể tiếp cận được những chương trình học tiên tiến với chất lượng quốc tế mà không nhất thiết phải ra nước ngoài toàn bộ thời gian.

Trong giai đoạn 2005-2010 đã có gần 100 đề tài NCKH các cấp được cán bộ, giảng viên và sinh viên thực hiện. Những năm gần đây, trường đặc biệt chú trọng vào đầu tư công tác NCKH của cán bộ trẻ và sinh viên, Thông báo khoa học của trường đã được phát hành 10 số đầu tiên trong giai đoạn 2005-2010, trong đó có chuyên san bằng tiếng nước ngoài. Kỷ yếu khoa học của sinh viên cũng phản ánh được phong trào học tập và NCKH của sinh viên ngoại ngữ.

Trường đã duy trì việc tổ chức hội thảo khoa học thường niên với các chủ đề mang tính thời sự trong đào tạo và quản lý đào tạo... trên cơ sở phối hợp với các trường đại học trong nước và một số trường, tổ chức nước ngoài. Một số hội thảo liên trường và quốc tế điển hình gồm "công tác dịch thuật", "Hoa kỳ học", "Liên kết và đào tạo với đối tác nước ngoài", "English for all"... Trường liên tục tổ chức hoặc chỉ đạo các khoa tổ chức nhiều seminar, tọa đàm khoa học, các lớp tập huấn, các báo cáo chuyên đề do các chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài báo cáo.

Các ngành đào tạo ở bậc đại học của Trường cung cấp cho người học những kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ, văn hóa - văn học nước ngoài; rèn luyện và phát huy các kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ ở mức độ thành thạo; cho phép người học đạt được trình độ nghiệp vụ tương đối vững vàng như: giảng dạy ngoại ngữ ở các bậc học, làm công tác biên - phiên dịch trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, bước đầu hình thành năng lực nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ, văn học hoặc văn hóa nước ngoài, cũng như có khả năng hành ngề trong một số hoạt động dịch vụ khác như hướng dẫn du lịch, bảo tàng, thương mại...

Thông tin về chuyên ngành: Sau năm thứ hai, sinh viên các ngành sau đây sẽ được xét vào học theo các chuyên ngành dựa vào nguyện vọng đăng ký và kết quả học tập:
Ngành Sư phạm tiếng Anh: Sư phạm tiếng Anh, Sư phạm tiếng Anh Tiểu học.
Ngành Ngôn ngữ Anh: Tiếng Anh Ngữ văn, Tiếng Anh Phiên dịch, Tiếng Anh Biên dịch, Tiếng Anh Du lịch;
Ngành Ngôn ngữ Pháp: Tiếng  Pháp Ngữ văn, Tiếng Pháp Phiên dịch, Tiếng Pháp Biên dịch, Tiếng Pháp Du lịch;
Ngành Ngôn ngữ Trung Quốc: Tiếng Trung Ngữ văn, Tiếng Trung Phiên dịch, Tiếng Trung Biên dịch, Tiếng Trung Thương Mại.
Ngành Quốc tế học: Hoa Kỳ học, Quan hệ Quốc tế
Ngành ngôn ngữ Nhật Bản: NN &VH Nhật Bản, Tiếng Nhật Sư phạm.


Trường Đại học Y khoa Huế được thành lập ngày 28 tháng 3 năm 1957, từ năm 1975 về trước qui mô đào tạo nhỏ, Trường mới đào tạo được trên 200 Bác sĩ. Qua gần 50 năm xây dựng và phát triển đặc biệt hơn 30 năm sau ngày thống nhất đất nước, Trường Đại học Y khoa Huế đã không ngừng vươn lên thực hiện tốt các nhiệm vụ làm bằng đại học giá rẻ của nhà trường trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh và chỉ đạo tuyến y tế cơ sở. Trong 50 năm qua, Trường đã đào tạo được hơn 9.000 Bác sĩ, Dược sĩ, Cử nhân đại học và đào tạo được gần 3.000 học viên Sau đại học tốt nghiệp ra trường.
trường đại học y dược huế

Hiện nay, Trường có 524 cán bộ công chức và hợp đồng lao động. Về cán bộ giảng dạy, Trường có 259 cán bộ giảng dạy, trong đó có 48 Tiến sĩ , 121 Thạc sĩ, 16 chuyên khoa cấp II và 74 đại học. Hiện nay, Trường có 18 Giáo sư, Phó giáo sư và 84 giảng viên chính. 100% cán bộ giảng dạy đã qua nghiên cứu học tập ở nước ngoài.
Đào tạo Đại học, Trường đang đào tạo 13 chuyên ngành, trong đó, Hệ Chính qui 6 chuyên ngành (Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ Răng hàm mặt, Dược sĩ làm bằng đại học giá rẻ, Cử nhân Điều dưỡng, Cử nhân Kỹ thuật y học và Cử nhân Y tế công cộng); Hệ Không chính qui có 7 chuyên ngành (Bác sĩ đa khoa, Dược sĩ đại học, Cử nhân Điều dưỡng đa khoa, Cử nhân Điều dưỡng Hộ sinh, Cử nhân Điều dưỡng Gây mê, Cử nhân Kỹ thuật Xét nghiệm và Cử nhân Kỹ thuật hình ảnh). Số lượng tuyển sinh hàng năm trên 1000 sinh viên, đưa quy mô đào tạo Đại học của Trường hiện nay trên 3.800 sinh viên.
Đào tạo Sau Đại học, Trường đang đào tạo gần 60 chuyên ngành, trong đó Chuyên khoa cấp I có 22 chuyên ngành; Chuyên khoa cấp II có 16 chuyên ngành làm bằng đại học giá rẻ; Bác sĩ Nội trú có 6 chuyên ngành; Cao học có 7 chuyên ngành; Nghiên cứu sinh có 7 chuyên ngành. Số lượng tuyển sinh hàng năm gần 500 học viên đưa quy mô đào tạo sau đại học của Trường hiện nay gần 1000 học viên.
Nghiên cứu khoa học và hợp tác Quốc tế, Trường đã hoàn thành hàng chục nhánh đề tài cấp Nhà nước, gần 50 đề tài cấp Bộ, hơn 1.500 đề tài cấp Trường trong đó hàng ngàn đề tài đã được đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước. Gần chục đề tài được cấp bằng sáng chế, trên 60 sáng kiến cải tiến được cấp bằng lao động sáng tạo. Đã tổ chức tốt hàng trăm hội, nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế. Trường có quan hệ hợp tác với trên 30 trường Đại học nước ngoài và các tổ chức y tế thế giới, đã triển khai thực hiện 23 dự án quốc tế và đào tạo nghiên cứu khoa học, điều trị bệnh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế được thành lập năm 2002 với quy mô bệnh viện loại 1, có 400 giường bệnh. Đây là mô hình mới, hoạt động theo đơn vị sự nghiệp có thu, tự hoạch toán 100%.
Với đội ngũ thầy thuốc giàu kinh nghiệm và trình dộ chuyên môn cao, Bệnh viện được trang bị các trang thiết bị hiện đại trong chẩn đoán và điều trị như CT scan, MRI, máy tán sỏi tiết niệu ngoài cơ thể, hệ thống máy siêu âm màu, siêu âm tim gắng sức, siêu âm tim qua thực quản, hệ thống máy nội soi chẩn đoán và can thiệp như nội soi phế quản, nội soi tiêu hoá, nội soi khớp, bàng quang, lồng ngực, phụ sản, các trang thiết bị hiện đại cho hệ thống phòng mổ, máy điều trị khớp bằng kích sốc, hệ thống máy xét nghiệm. Hàng năm Bệnh viện đã tiếp nhận khám chữa bệnh cho trên 200.000 người, phẫu thuật trên 2.000 người, điều trị gần 20.000 người, đặc biệt Bệnh viện đã nhận khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế cho trên 45.000 người.
Để phát triển mũi nhọn trong chẩn đoán và điều trị, tháng 9/2005 Trường đã đưa Trung tâm phẫu thuật các bệnh lý thần kinh sọ não bằng dao Gamma vào hoạt động, đây là thiết bị hiện đại đầu tiên có tại Việt Nam. Sự ra đời của Trung tâm phẫu thuật bằng dao Gamma tại Bệnh viện Trường đã được Bộ Y tế đưa vào một trong 10 sự kiện nổi bật của ngành Y tế Việt Nam năm 2005. Qua 1 năm hoạt động, Trung tâm đã điều trị trên 500 bệnh nhân ở trong nước và từ nước ngoài đạt hiệu quả cao. Ngày 19/8/2006, Trường khai trương Trung tâm dao Gamma thân điều trị các khối u ở vùng cổ, vùng ngực, vùng bụng…
Như vậy, với việc triển khai dao gamma đầu và dao gamma thân, Trung tâm phẫu thuật bằng Dao Gamma của Trường trở thành Trung tâm điều trị bằng dao gamma hoàn chỉnh nhất khu vực Đông Nam châu Á.
Hiện nay, Đảng bộ Trường có 629 đảng viên là cán bộ và sinh viên. Hàng năm, Đảng bộ Trường đã kết nạp gần 100 đảng viên mới. Trong những năm qua, Đảng bộ đã làm tốt vai trò lãnh đạo của mình nên trong 15 năm liền, Đảng bộ Trường được Tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên Huế công nhận là Đảng bộ cơ sở trong sạch vững mạnh. Các tổ chức quần chung như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên, Hội cựu chiến binh dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy tốt vai trò chức năng của mình trong tất cả các mặt hoạt động của Trường, góp phần xây dựng Nhà trường phát triển vững mạnh.
Với những kết quả đã đạt được trong những năm qua, Nhà trường đã được tặng thưởng 02 Huân chương Lao động hạng Ba và Huân chương Lao động hạng Nhất, 04 Huân chương Lao động hạng Ba cho 1 tập thể và 3 cá nhân giai đoạn 2001-2005, 27 Bằng khen Thủ Tướng Chính phủ cho 10 tập thể, 17 cá nhân, 63 Bằng khen Bộ Giáo dục-Đào tạo cho 17 tập thể, 46 cá nhân. 20 Bằng khen của Uỷ ban Nhân dân các tỉnh Tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Kon Tum cho 15 tập thể và 05 cá nhân vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong đào tạo đội ngũ cán bộ y tế cho các Tỉnh miền Trung. 20 Bằng khen của Tổng liên đoàn Lao động, liên đoàn Ngành, Tỉnh và các Bộ khác.